(Phần 2) Đất nước Indonesia – Vùng đất vàng cà phê Châu Á

Indonesia trước đây được gọi là Đông Ấn Hà Lan. Sau khi giành lại độc lập, tên Indonesia được sử dụng chính thức.

Nó được cho là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp indos , nghĩa là “Ấn Độ” và nesos , nghĩa là “đảo”. Nó cũng là quần đảo lớn nhất, bao gồm hơn 17.500 hòn đảo.

Đông Ấn Hà Lan ( Indonesia khi đang bị Hà lan chiếm đóng)

Indonesia là quốc gia đa số theo đạo Hồi lớn nhất trên thế giới.  Trong khi ở Bali, đạo Hindu là chủ yếu.

Thánh đền Hồi Giáo

Trong khi đó ở những khu vực như Minahasa ở Bắc Sulawesi, cao nguyên Toraja ở Nam Sulawesi, ở Đông Nusatenggara và phần lớn của Papua, ở cao nguyên Batak cũng như trên đảo Nias ở Bắc Sumatra, đa số là người Công giáo hoặc Tin lành.

Đền thờ đạo Hindu

Do sự đa dạng, bạn có thể thấy các tôn giáo đã được kết hợp với những ảnh hưởng khác nhau, và bạn có thể chứng kiến ​​điều này trong nhiều lễ hội tôn giáo đầy màu sắc, đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa của Indonesia .

Sự phân tán của các hòn đảo có nghĩa là các nền văn hóa vi mô khác biệt đã phát triển để trở thành đặc trưng của khu vực.

Hơn nữa, hơn 300 nhóm sắc tộc trải dài trên khắp Indonesia.

Các nhóm sắc tộc trải dài trên các đảo ở Indonesia

Đông nhất là dân số Java (41%) chủ yếu chiếm đóng đảo Java.

Gia đình người Java

Những người khác bao gồm: người Sundan, Malay, Batak, Madurese và Betawi.

Người Madurese

Hầu hết các dân tộc đều có ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa gắn liền với họ.

Indonesia có một phương ngữ chuẩn hóa của ngôn ngữ Mã Lai, được gọi là Bahasa Indonesia, được tuyên bố là ngôn ngữ chính thức của Indonesia của quốc gia độc lập vào năm 1945.

Tuy nhiên, do có nhiều hòn đảo, hầu hết mọi người có xu hướng nói phương ngữ khu vực của hòn đảo của họ. Ước tính có hơn khoảng 700 ngôn ngữ riêng ở các hòn đảo khác nhau.

Các nhóm dân tộc ở Indonesia

Do đó, người Indonesia có xu hướng xác định bản thân bằng văn hóa địa phương của họ, thay vì văn hóa quốc gia của họ.

Phương châm quốc gia Indonesia là “Bhinneka tunggal ika” (“Sự thống nhất trong sự đa dạng ”), đề cập đến sự đa dạng phi thường của dân sốIndonesia đã xuất hiện từ sự hợp lưu liên tục của các dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa.

Ngôn ngữ chuẩn Bahasa Indonesia

Kể từ khi xuất hiện lần đầu vào thế kỷ 17 & 18, người Indonesia đã gắn bó với cà phê. Uống cà phê đã trở thành một truyền thống và một phần cuộc sống hàng ngày của người dân Indonesia mà không thể bỏ qua.

Hầu như ở mọi góc phố, những quầy hàng ven đường hay còn gọi là warung kopi thường chật cứng du khách.

Họ phục vụ cà phê pha sẵn trong ly. Hầu hết người Indonesia thích uống cà phê đen với đường.

Bên cạnh cà phê bình dị này, người ta còn phục vụ cà phê với các loại thảo mộc và gia vị.

Một số khu vực ở Sumatra, các cộng đồng làng mạc như Tây Sumatra, uống cà phê từ lá cà phê – pha bằng nước nóng – tạo ra hương vị cà phê tinh tế trong tách. Họ gọi nó là Kopi Kahwa .

Ở Aceh, được phục vụ theo cách lọc bằng các bộ lọc vải khác nhau hay còn gọi là điểm hấp dẫn cà phê. Họ gọi nó là Kopi Tarik hoặc cà phê kéo.

Từ “kopi” trong tiếng Indonesia có nghĩa là cà phê.

Một số kiểu cà phê đặc trưng ở Indonesia mà bất kì ai cũng muốn thử nếu một lần đặt chân đến đất nước đa dạng văn hóa này.

Kopi Tubruk (Cà phê pha sẵn):

Cà phê Kopi Tubruk có tên khác là cà phê Acehnese , xuất xứ từ vùng Aceh.

Sự khác biệt khi nói đến cà phê Acehnese hoặc Kopi Aceh như người ta biết là nó rất đặc và bã cà phê tạo thành một loại cặn dưới đáy ly của bạn

Đây là loại cà phê pha phổ biến nhất trong cả nước.

Kopi Tubruk hay Kopi Selem (cà phê đen, theo tiếng Indonesia) là một phương pháp pha cà phê kiểu cổ, trong đó cà phê xay với đường được đun sôi và phục vụ mà không cần lọc.

Nó được coi là di sản do các thương nhân Ả Rập để lại, đây là tàn tích của kỷ nguyên cà phê xưa cũ.

Thưởng thức ly Kopi Tubruk

Kopi Tarik (cà phê kéo):

Cách pha cà phê Kopi Tarik

Kopi Tarik là loại cà phê Arabica Aceh được pha đặc biệt với đường. Trong quá trình pha, cà phê  được rót nhiều lần từ ấm này sang ấm khác bằng cách sử dụng rây lọc vải để tạo độ đặc và hương vị đậm đà.

Kopi Tarik được uống và bán phổ biến tại các cửa hàng cà phê ở vùng Aceh. Khách hàng sẽ ngồi hàng giờ đồng hồ từ sáng đến tối để nói về các vấn đề địa phương.

Loại cà phê này thường có một hương vị đặc biệt. Ngoài được coi là ngon, Kopi Tarik còn được cho là thơm hơn khi ủ theo cách đó.

Kopi Jahe (cà phê gừng):

Kopi jahe có nghĩa là “cà phê gừng” và nghĩa đen là cà phê đen có vị gừng. Cà phêt có thêm vị cay nồng của gừng tạo nên vị mới lạ.

Cà phê đen thường được pha với gừng và đường thốt nốt có thể tìm thấy hầu hết ở Java. Kopi jahe được xem như một loại thuốc thảo dược  cho là tốt để giảm bớt cảm cúm.

Kopi joss (cà phê Joss):

Kopi Joss hay còn được gọi cà phê than là một đặc sản của thành phố Yogyakarta, thuộc đảo Java, Indonesia.

Thường xuất hiện ở “angkringan” (xe bán hàng di động), Kopi Joss đóng vai trò rất quan trọng trong nền văn hoá cà phê tại xứ vạn đảo.

Điều khiến Kopi Joss trở nên khác biệt đó là khi cà phê vừa được sẽ gắp than bỏ vào trong cốc cà phê, tạo nên tiếng “joss” cực lạ tai, đây chính là nguồn gốc của cái tên “Kopi Joss”.

Kopi Joss sẽ được phục vụ cùng với viên than trong ly, hương vị cà phê than “dễ gây nghiện” đối với bất kì ai từng thử một lần.

Kopi bumbu (cà phê gia vị):

Cà phê kopi bumbu hay dibumbui kopi cà phê pha với quế, bạch đậu khấu, đinh hương và đường.

Sự pha trộn này đã được giới thiệu hàng trăm năm trước với người Indonesia thông qua ảnh hưởng văn hóa của những người Trung Đông nhập cư và sinh sống tại đất nước này kể từ đó.

Còn có rất nhiều kiểu pha cà phê đặc trưng riêng ở từng đảo nhỏ ở Indonesia như: Kopi sereh, kopi Luwak, Kopi Kahwa….

Những sự đa dạng về nền văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ ở Indonesia đã ảnh hưởng đến việc thưởng thức và chế biến cà phê với nhiều phương thức khác nhau, tạo nên nét độc đáo riêng cho cà phê Indonesia.

Leave a Reply

Your email address will not be published.